Hotline 247
04 6662 6362
 
Hà Nội
0968 378 899
 
Hồ Chí Minh
01289 777 888

Thụ tinh ống nghiệm (IVF)

BioMedia

Bài viết liên quan: Chẩn đoán trước sinh

Chẩn đoán các rối loạn đơn gen trước sinh từ máu thai phụ

1. IVF là gì?

Thụ tinh ống nghiệm (IVF) là một quá trình trong đó một trứng được thụ tinh với một tinh trùng bên ngoài cơ thể: in vitro (trong ống nghiệm). Quá trình này bao gồm việc theo dõi và kích thích rụng trứng, thu trứng và cuối cùng để cho tinh trùng thụ tinh với trứng trong môi trường nuôi cấy của phòng thí nghiệm. Trứng đã thụ tinh (hợp tử) được nuôi 2–6 ngày trong môi trường sinh trưởng và sau đó được chuyển vào tử cung của chính người phụ nữ đó, hoặc một người khác với mong muốn giúp người phụ nữ có thai.

IVF

Hình 1. IVF – thụ tinh trong ống nghiệm

Kĩ thuật IVF có thể được sử dụng trong nhiều trường hơp khác nhau như: công nghệ hỗ trợ sinh sản để giúp điều trị vô sinh hay nó còn được sử dụng trong trường hơp mang thai hộ. Trong trường hợp mang thai hộ, trứng sau khi thụ tinh được đặt vào tử cung của người mang thai hộ, và đứa trẻ được sinh ra từ kĩ thuật này không có liên quan di truyền với người mang thai hộ. Ngoài ra, trong một số trường hợp, có thể sử dụng trứng và tinh trùng hiến.

Một vài nước nghiêm cấm hoặc kiểm soát rất chặt chẽ điều trị bằng IVF, từ đó sinh ra hiện tượng du lịch để chữa trị vô sinh. Những hạn chế về điều trị IVF bao gồm những phụ nữ độc thân, những người đồng tính nữ và cho cả việc sắp đặt mang thai hộ. Do chi phí cao, IVF thường chỉ được áp dụng sau khi những phương pháp rẻ tiền hơn không mang lại kết quả.

Ca thụ tinh ống nghiệm đầu tiên thành công được đánh dấu bởi sự ra đời của đứa trẻ trong ống nghiệm Louise Brown vào năm 1978. Nhà sinh lý học, Robert G Edwards đã phát triển kĩ thuật điều trị này, nhờ đó ông đã được nhận giải Nobel y học trong năm 2010. Sử dụng kĩ thuật IVF cùng với chương trình hiến trứng đã giúp nhiều phụ nữ qua tuổi sinh sản hoặc mãn kinh có thể có thai. Hiện nay, Adriana Iliescu là người phụ nữ lớn tuổi nhất sinh con bằng kĩ thuật IVF với trứng hiến năm 2004 khi bà đã 66 tuổi

2. Phương pháp

Theo lý thuyết, IVF có thể được thực hiện bằng cách thu trứng từ vòi ống dẫn trứng hoặc tử cung của người phụ nữ trong một chu kỳ rụng trứng tự nhiên, sau đó được trộn với tinh trùng và cuối cùng trứng đã thụ tinh được đưa trở lại tử cung để phát triển thành thai nhi. Tuy nhiên, nếu chỉ dùng phương pháp này mà không có các kỹ thuật bổ trợ khác thì tỷ lệ thành công của IVF là rất thấp. Do đó, trong IVF người ta áp dụng thường quy các kĩ thuật bổ trợ khác bao gồm: kích thích buồng trứng để thu số lượng trứng lớn và thu trứng qua đường ấm đạo dưới hướng dẫn siêu âm, và cùng với việc xử lý giao tử, nuôi cấy và chọn lọc phôi, cuối cùng các phôi tốt được đặt trở lại tử cung cho sự hình thành thai nhi, qua đó nâng cao hiệu quả IVF.

Blausen_0060_AssistedReproductiveTechnology

Hình 2. Phương pháp IVF (Nguồn ảnh: https://en.wikipedia.org/)

3. Các bước tiến hành

– Kích thích buồng trứng

Kích thích buồng trứng là kĩ thuật kích thích sự phát triển của nhiều nang trứng trong buồng trứng. Quy trình này nên bắt đầu với dự đoán sự đáp ứng buồng trứng dựa vào tuổi tác người mẹ, số nang trứng thứ cấp và mức độ anti-Müllerian hormone. Kết quả của tiên lượng đáp ứng kém hoặc đáp ứng tốt với kích thích buồng trứng sẽ giúp bác sĩ xác định được phác đồ và liều lượng cho quy trình này.

Trong quy trình kích thích rụng trứng có một bước là ức chế sự rụng trứng tự phát theo chu kì tự nhiên. Hiện có hai phương pháp ức chế chính phổ biến là: sử dụng GnRH đồng vận (phác đồ dài hơn) hoặc sử dụng phác đồ GnRH đối vận (phác đồ ngắn). Trong phác đồ GnRH đồng vận chuẩn, ngày bắt đầu kích thích và ngày thu trứng có thể được lựa chọn để phù hợp với mỗi người, ngược lại trong phác đồ sử dụng GnRH đối vận phải được dựa vào sự khởi đầu của chu kì kinh nguyệt trước đó. Mặt khác, so với GnRH đồng vận, phác đồ GnRH đối vận ít gây nên hội chứng quá kích buồng trứng, là một biến chứng nguy hiểm.

Để kích thích buồng trứng, người ta thường dùng kích dục tố dạng tiêm (đồng chất của FSH) và được theo dõi chặt chẽ. Các phương pháp theo dõi gồm có, đó mức độ estradiol và xem sự phát triển nang noãn bằng siêu âm phụ khoa. Thời gian cần thiết cho một phác đồ kích thích là khoảng 10 ngày.

– Chu kì IVF tự nhiên

natural-isolated-01

Hình 3. IVF tự nhiên (Nguồn ảnh: http://www.newhopefertility.com)

Một số kiểu chu kì IVF tự nhiên:

  • IVF không sử dụng thuốc để kích thích buồng trứng, trong khi vẫn sử dụng thuốc ức chế rụng trứng.
  • IVF có kích thích rụng trứng bao gồm việc sử dụng cả các kích dục tố gonadotropin nhưng thông qua phương pháp GnRH đối vận để chu kỳ rụng trứng bắt đầu từ chính những cơ chế tự nhiên.
  • Chuyển phôi đông lạnh, IVF sử dụng kích thích buồng trứng, sau đó trữ lạnh phôi, tiếp theo là chuyển phôi đông lạnh ở một thời điểm thích hợp theo một chu kỳ tự nhiên

Thụ tinh ống nghiệm không sử dụng thuốc kích thích rụng trứng nhiều là phương pháp đã được sử dụng trong trường hợp Louise Brown. Phương pháp này có thể áp dụng cho những trường hợp người phụ nữ không muốn dùng thuốc kích thích buồng trứng hay để tránh tác dụng phụ của thuốc. Tuy nhiên, HFEA ước tính tỷ lệ thành công là khoảng 1.3% cho mỗi chu kì IVF nếu không sử dụng thuốc rụng trứng nhiều với phụ nữ độ tuổi 40-42.

Kích thích mềm là phương pháp IVF có sử dụng một liều thuốc kích thích buồng trứng nhỏ với một thời gian ngắn trong chu kì kinh nguyệt tự nhiên của phụ nữ nhằm thu được từ 2-7 trứng và từ đó thu được những phôi khỏe mạnh. Phương pháp này dường như có ưu điểm về giảm thiểu được các biến chứng và từ đó thu được những phôi khỏe mạnh. Phương pháp này dường như có ưu điểm về giảm thiểu được các biến chứng cũng như tác dụng phụ đối với người phụ nữ, và nó nhằm tới chất lượng trứng và phôi thay vì số lượng như các quy trình khác. Một nghiên cứu đã so sánh IVF kích thích nhẹ với GnRH đối vận sau đó chuyển phôi đơn và IVF kích thích chuẩn với GnRH đồng vận kèm với chuyển hai phôi cho thấy kết quả mang thai tích lũy và cuối cùng dẫn tới sinh em bé khỏe mạnh sau một năm là 43.4% và 44.7% tương ứng. Ngoài ra, IVF kích thích nhẹ còn giảm được tỷ lệ đa thai và quá kích buồng trứng.


– Kích thích trưởng thành noãn giai đoạn cuối cùng

Khi các nang trứng đạt đến một mức độ phát triển nhất định, người ta tiến hành kích thích bước trưởng thành cuối cùng bằng một mũi tiêm hCG, việc được coi như hành động bóp cò súng. hCG hoạt động như đồng chất của LH, và rụng trứng sảy ra khoảng 38 tới 40 giờ sau tiêm hCG, nhưng trong IVF chọc trứng thường được thực hiện trong khoảng 34 tới 36 tiếng sau tiêm, tức là ngay trước khi phóng noãn. Việc này cho phép có thể lên lịch trình chọc hút trứng vào thời điểm trứng đã trưởng thành hoàn toàn. Tiêm hCG dễ gây nên hội chứng quá kích buồng trứng. Do đó, có thể người ta sử dụng GnRH thay cho hCG để loại trừ nguy cơ này, nhưng lại làm giảm hiệu quả trưởng thành noãn 6% so với hCG.

– Chọc hút trứng

Trứng được thu từ bệnh nhân bằng kỹ thuật chọc hút qua ngả âm đạo, sử dụng một kim hút dài dưới hướng dẫn của siêu âm. Dịch nang trứng sau khi được hút ra, sẽ được một nhà phôi học sử dụng để tìm kiếm trứng, thông thường mỗi lần chọc hút có thể thu được 10 tới 30 trứng. Kỹ thuật này kéo dài khoảng 20-40 phút, và bệnh nhân được gây mê hoặc gây tê trong khi thực hiện thủ thuật.

choc hut trung

Hình 4. Chọc hút trứng (Nguồn ảnh: http://www.goclinicivf.com)

– Chuẩn bị trứng và tinh trùng

Trong phòng thí nghiệm, trứng được tách bỏ khỏi tế bào xung quanh để chuẩn bị cho thụ tinh. Có thể lựa chọn trứng trước khi thụ tinh, nhằm chọn ra trứng có tỷ lệ mang thai cao nhất. Cùng thời điểm này, tinh dịch được xử lý để loại bỏ các tinh trùng không di động và loại bỏ tinh tương, quá trình này được gọi là lọc rửa tinh trùng. Nếu sử dụng tinh trùng hiến tặng, mẫu này thường được đông lạnh và xét nghiệm bệnh trước khi hiến và được rã đông khi sử dụng.

– Dẫn tinh

Tinh trùng và trứng được ủ cùng nhau trong tủ ấm với tỷ lệ khoảng 75,000:1 trong môi trường nuôi để quá trình thụ tinh xảy ra. Một bài báo tổng quan vào năm 2013 cho thấy thời gian được ủ cùng nhau 1 đến 4 giờ cho tỉ lệ mang thai cao hơn đáng kể so với 16 đến 24 giờ. Trong hầu hết các trường hợp, trứng thụ tinh sẽ biểu hiện hai tiền nhân. Ngoài ra, với những trường hợp tinh trùng số lượng ít hoặc di động kém, thụ tinh có thể được thực hiện bằng kĩ thuật tiêm tinh trùng vào bào tương noãn hay còn gọi là ICSI. Trứng đã thụ tinh được chuyển qua môi trường đặc biệt sau 48 giờ để phát triển thành phôi 6-8 tế bào.
Với kỹ thuật chuyển giao tử vào vòi trứng, trong đó, trứng được thu từ người phụ nữ được đặt cùng tinh trùng trở lại vào vòi trứng, do đó cho phép sự thụ tinh xảy ra bên trong người phụ nữ. Do đó phương pháp này thực chất là thụ tinh trong cơ thể chứ phải phải thụ tinh trong ống nghiệm.

ICSI

Hình 5. Tiêm tinh trùng vào bào tương noãn (ICSI) (Nguồn ảnh: http://www.princetonivf.com/)

– Nuôi phôi

Thời gian nuôi cấy phôi chủ yếu là tới giai đoạn phân cắt (ngày thứ hai tới ngày thứ tư sau thu trứng) hoặc tới giai đoạn túi phôi (ngày thứ năm hoặc thứ sáu sau thu trứng). Nuôi phôi tới giai đoạn túi phôi có thể làm tăng đáng kể tỷ lệ sinh trên mỗi lần chuyển phôi, tuy nhiên cũng làm giảm số lượng phôi có sẵn cho chuyển và đông lạnh, do đó chuyển phôi giai đoạn phân cắt tăng tỷ lệ mang thai cộng dồn. Ngoài ra, tỷ lệ sinh của chuyển phôi vào ngày hai của thụ tinh không khác gì so với chuyển phôi ngày ba. Hơn nữa, tỷ lệ sinh non và bất thường bẩm sinh ở chuyển túi phôi cao hơn so với chuyển phôi giai đoạn phân cắt.

– Lựa chọn phôi

Các phòng thí nghiệm đã phát triển các phương pháp đánh giá để ước tính chất lượng phôi. Người ta chứng minh rằng, tỷ lệ có thai tốt nhất là dựa vào chọn lựa phôi bằng hệ thống đánh giá hình thái phôi. Hơn nữa, kể từ năm 2009 khi hệ thống theo dõi phôi liên tục đầu tiên được phê chuẩn cho sử dụng lâm sàng trong IVF, hệ thống đánh giá động học hình thái chứng mình được tăng đáng kể tỷ lệ mang thai.

– Chuyển phôi

Các nhà phôi học dựa vào số lượng phôi bào, sự đồng đều, và sự phân mảnh của phôi để loại bỏ đi những phôi hỏng. Số lượng phôi chuyển phụ thuộc vào tổng số phôi, độ tuổi cũng như các yếu tố sức khỏe và kết quả chẩn đoán của người phụ nữ đó.

Các nước như Canada, Anh, Australia và New Zealand cho phép chuyển tối đa là 2 phôi trừ những trường hợp rất đặc biệt. Ở Anh và theo những quy định của HFEA, một người phụ nữ trên 40 tuổi có thể được chuyển nhiều nhất 3 phôi, trong khi ở Mỹ, một người phụ nữ trẻ hơn có thể được chuyển nhiều phôi tùy thuộc vào chẩn đoán tình trạng hiếm muộn của người đó. Phần lớn các đơn vị y tế và cơ quan quản lý mong muốn giảm thiểu nguy cơ đa thai. Phôi được đánh giá tốt nhất sẽ được chuyển vào tử cung thông qua cổ tử cung và âm đạo bằng một catheter mỏng và mềm. Có thể chuyển nhiều phôi để nâng cao tỷ lệ làm tổ và mang thai.

Dịch và tổng hợp từ Wikipedia

BioMedia VN

 

Các bài viết cùng chủ đề

Thụ tinh ống nghiệm (IVF)

Bài viết liên quan: Chẩn đoán trước sinh Chẩn đoán các rối loạn đơn gen trước sinh từ máu thai phụ 1. IVF là gì? Thụ...