Hotline 247
04 6662 6362
 
Hà Nội
0968 378 899
 
Hồ Chí Minh
01289 777 888

Điểm tin tế bào gốc (Tuần 3)

BioMedia

1. Thương mại hóa sản phẩm liệu pháp tế bào ở Châu Âu

Gần một nửa sản phẩm thương mại liệu pháp gen và tế bào được cấp phép bởi EMA (Cục quản lý thuốc châu âu) bị rút lại, việc thương mại hóa sản phẩm này ở Châu Âu dần thất bại. Trong 7 sản phẩm liệu pháp gen và tế bào được EMA được cấp phép Chondrocelect công ty Tigenix năm 2009, Glybera công ty uniQure năm 2012, MACI công ty Genzyme/ Sanofi/ Vericel năm 2013, Provenge công ty Dendreon năm 2013, Holoclar công ty Chiesi năm 2015, Imlygic công ty Amgen năm 2015, Strimvelis công ty GSK năm 2016 thì tới nay có ba sản phẩm bị rút lại gồm MACI năm 2014, Provenge năm 2015, Chondrocelert năm 2016.

Câu hỏi đặt ra là tại sao việc thương mại hóa các sản phẩm liệu pháp điều dựa trên tế bào lại thất bại? Christopher Bravery cho biết “Chúng ta tập trung quá nhiều vào các quy định và bỏ qua việc thương mại hóa sản phẩm”. Theo như ông biết cả 3 trường hợp rút lại đều là do phía công ty tự đề xuất chứ không phải EMA. Điều đó cho thấy các sản phẩm này an toàn, và khi được cấp phép nó cũng chứng minh là có hiệu quả trong điều trị bệnh. Nhưng thị trường khắc nghiệt, việc bán không dễ như các công ty mong đợi và dường như mọi sản phẩm liệu pháp gen – tế bào đều không có khả năng thương mại.

2. Nhìn xuyên qua cơ thể

Các nhà khoa học từ Đại học Munich đã đưa kỹ thuật làm trong mô – tissue clearing technique (kỹ thuật giúp quan sát xuyên qua tế bào, mô, cơ quan) lên cấp độ toàn bộ cơ thể. Phương pháp mới này gọi là uDISCO:

Chúng tôi phát triển “DISCO không giới hạn - ultimate DISCO” để khắc phục những hạn chế trong việc ghi hình ảnh bên trong thực thể. Phương pháp uDISCO có những thuận lợi như giữ protein huỳnh quang tồn tại qua nhiều tháng, giữ cấu trúc cơ quan nguyên vẹn, làm trong toàn bộ cơ thể trong khi kích thước giảm tới 63%. Chúng tôi sử dụng uDISCO để ghi hình ảnh các điểm nối thần kinh và cấu trúc mạch máu từ đầu tới chân dài 7cm và sàng lọc chính xác các tế bào gốc được cấy ghép trong toàn bộ cơ thể chuột.

Hình a: Hệ thần kinh trung ương chuột mang gen phát huỳnh quang xanh GFP được làm trong cơ thể bằng phương pháp uDISCO; Hình b-g: Cấu trúc chi tiết não và các bộ phận trong não chuột. (Nguồn: doi:10.1038/nmeth.3964).

3. Ghi nhận trong khám phá quang di truyền y học

Anna Vlasits đã có một bài nổi bật trên STAT News [4] về sự phát triển trong ngành quang di truyền y học và những và những người tiên phong trong đó. Trong bài báo, cô viết về những người có ảnh hưởng đến các phát minh chính và những nhà tiên phong trong lĩnh vực. Chúng ta đều biết rằng Karl Deisseroth và Ed Boyden có ảnh hưởng sâu rộng và được xem là những người tiên phong, bên cạnh đó còn có Zhuo-Hua Pan người đã tiến hành những thử nghiệm đầu tiên đóng vai trò then chốt. Pan đã kém may mắn hơn trong các công bố của ông (công trình phải bình duyệt trong hai năm) vì vậy mà Deisseroth và Boyden đã công bố trước.

Pan và Dizhoor viết công trình của họ và nộp nó cho Nature vào 25-9-2004 theo thông tin từ lá thư Pan chia sẻ với STAT. Các thành viên ban biên tập của Nature đã từ chối và đề xuất họ sẽ gửi sang một tạp chí khác hợp chuyên ngành hơn như Nature Neuroscience. Vào đầu năm sau, Pan gửi bài báo của họ sang tạp chí Neuroscience và cũng bị từ chối lần thứ hai.

Tại sao công trình của Pan không được công bố trước? Có thể ông không thể biết được lý do. Sau khi bài của Boyden được đăng, Pan viết lá thư gởi cho ban biên tập Nature Neuroscience và hỏi tại sao họ lại từ chối bài báo của ông mà lại đăng công trình của Boyden?

Ban biên tập trả lời rằng, trong trường hợp hai công trình giống nhau, Boyden và cộng sự đã trình bày phương pháp của họ là một kỹ thuật mới hơn là một phát hiện mới trong khoa học. Bài báo của Pan dường như quá hẹp, nó chỉ tập trung vào sử dụng channelrhodopsin để khôi phục mắt, trong khi bài báo của Boyden có một cái nhìn rộng hơn về channelrhodopsin như là một công cụ chung trong neuroscience.

Anna Vlasists thảo luận vấn đề trì hoãn công bố và ảnh hưởng của các nhà khoa học trong các khám phá. Chúng ta có thể rút ra tương tự như trong cuộc chiến bằng sáng chế/ công trạng trong CRISPR vì cả hai công nghệ này đều “có thể đoạt giải Nobel"”

Cũng như các nhà phát minh, một số nhà khoa học nói rằng có thể Pan có thể không có được tầm nhìn lớn như là Deisseroth và Boyden. Stefan Herlitze một trong những người đầu tiên cũng có công bố đầu tiên về channelrhodopsin trong khoa học thần kinh nói rằng “Đương nhiên tôi phải nói rằng Deisseroth và Boyden thực sự đã phát triển lĩnh vực này đi xa hơn."”

Boyden lặp lại rằng “Karl và tôi đã rất hứng thú tìm hiểu cách kiểm soát các loại tế bào trong não. Trong mấy năm ngần đây, chúng tôi làm để thúc đẩy những phân tử trong các giới hạn logic”.

Vì vậy, vấn đề không phải là ai phát minh ra quang di truyền, mà chỉ là người đã mở rộng các ranh giới trong khoa học đi xa nhất.

Pan từ chối trả lời khi được hỏi liệu ông có cho rằng mình xứng đáng được công nhận như Boyden và Deisseroth không? Sau đó, ông nói trên STAT về Deisseroth rằng “Rõ ràng ông ấy cũng đã rất xuất sắc. Nhưng cũng rất may mắn vì nếu như bài báo của chúng tôi được công bố trước thì mọi chuyện có lẽ đã khác. Chúng tôi sẽ được công nhận hơn.”

4. Vai trò của tế bào gốc tạo máu trong trạng thái cân bằng tạo máu

Hiện nay, vẫn chưa rõ liệu tất cả các loại tế bào máu có phải được phát triển từ một loại tế bào gốc tạo máu (HSC) trong điều kiện bình thường hay không, vì những hạn chế của các mô hình cấy ghép truyền thống. Trong đó, tủy xương người nhận thường được phá hủy bởi tia xạ và các tế bào người cho có thể tái tạo quẩn tể tế bào máu tại vị trí tủy xương đã bị phá hủy trước đó. Nghiên cứu mới đây đã góp phần thay đổi về sự khôi phục miễn dịch của HSC. Các kết quả của nghiên cứu này sử dụng mô hình thích hợp trong nghiên cứu trạng thái ổn định của việc tạo máu được công bố trên tập san Immunity [3].

Từ việc đánh dấu di truyền cho thấy rằng HSC được chuyển gen biểu hiện phát triển thành các kiểu hình HSC khác, điều này xác định vị trí đầu dòng của nó trong sơ đồ biệt hóa. HSC được đánh dấu nhanh tróng góp phần tạo các quần thể tiền thân của tất cả các dòng tế bào sẽ được phát triển thành tế bào trưởng thành dòng tủy và dòng bạch cầu lympho, nhưng không phát triển thành tế bào B-1a và tế bào đại thực bào ở mô.

Các tế bào gốc tạo máu HSC được dánh dấu di truyền bằng cách chuyển gen và được cấy ghép vào chuột để theo dõi sự phân chia và biệt hóa của nó. Nghiên cứu cho thấy các tế bào này phân chia và biệt hóa thành các dòng tế bào tủy, lympho ngoại trừ tế bào B-1a, tế bào đại thực bào ở mô. (Nguồn: 10.1016/j.immuni.2016.08.007)

5. Cấy ghép tế bào gốc tạo máu thúc đẩy sự lão hóa của hệ miễn dịch

Các nhà nghiên cứu đã mô tả rằng cấy ghép tế bào gốc tạo máu ở bệnh nhân ung thư máu di căn góp phần vào việc thúc đẩy sự lão hóa của hệ miễn dịch [2]. Họ đã đo dấu hiệu của sự lão hóa thông qua phân tử p16 trên tế bào máu trước và sau khi hóa trị và cấy ghép tế bào gốc tạo máu. Kết quả cho thấy, sự biểu hiện của phân tử dấu hiệu lão hóa trên tế bào T tăng cao sau cấy ghép. Tác động này ngày càng mạnh ở những bệnh nhân tự ghép và những bệnh nhân sử dụng hóa trị nhiều lần. Tác giả chính của công trình nói:

“Nhiều nhà Ung thư học sẽ ngạc nhiên vì cấy ghép tế bào gốc thúc đẩy quá trình lão hóa”. Tiến sĩ y khoa Norman Sharples, tác giả chính của công trình, giám đốc của UNC Lineberger và cũng là giáo sư trong nghiên cứu ung thư nói thêm “Chúng ta biết rằng sau nhiều năm điều trị bằng cấy ghép, những người sống sót nhờ cấy ghép tế bào gốc tăng nguy cơ do các vấn đề về máu như lão hóa, giảm sức đề kháng, tăng nguy cơ bị suy tủy và tăng nguy cơ ung thư máu. Từ đó, công trình này cho phép chúng tôi định lượng được tác động của cấy ghép tế bào gốc bằng phân tử lão hóa”.

6. Cơ sở dữ liệu tế bào gốc ung thư

Một bài tổng quan về cơ sở dữ liệu mới dùng trong nhận diện đặc tính của tế bào gốc ung thư được đăng tải trên Stem cell TM [1].

Trong này, chúng tôi mô tả về Cơ Sở Dữ Liệu Liệu Pháp Trúng Đích Tế Bào Gốc Ung Thư (Cancer Stem Cells Therapeutic Target Database -CSCTT), đây là cơ sở dữ liệu trực tuyến đầu tiên cung cấp một nguồn truy cập tin sinh phong phú sử dụng cho việc hiển thị, tìm kiếm, phân tích cấu trúc, chức năng và các chú thích liên quan của các liệu pháp trúng đích tế bào gốc ung thư. CSCTT gồm có 135 protein có tiềm năng trúng đích CSC, với các thử nghiệm đã được tối tối ưu hóa trên thực nghiệm hiện nay được tập hợp từ các bài báo công bố trước đó.

Địa chỉ cơ sở dữ liệu: http://www.csctt.org/

Tài liệu tham khảo:

1. Xiaoqing Hu et. al, "Cancer Stem Cells Therapeutic Target Database: The First Comprehensive Database for Therapeutic Targets of Cancer Stem Cells", Stem Cells Translational Medicine, September 2, 2016.

2. William A. Wood et. al, "Chemotherapy and Stem Cell Transplantation Increasep16INK4a Expression, a Biomarker of T-cell Aging" (2016), ebiomedicine, DOI: http://dx.doi.org/10.1016/j.ebiom.2016.08.029.

3. Catherine M. Sawai et. al, "Hematopoietic Stem Cells Are the Major Source of Multilineage Hematopoiesis in Adult Animals", Immunity, September 20, 2016, DOI: http://dx.doi.org/10.1016/j.immuni.2016.08.007.

4. Anna Vlasits, "He may have invented one of neuroscience’s biggest advances. But you’ve never heard of him", STAT, September 1, 2016.

Lược dịch và tổng hợp Lê Văn Trình

Biên tập Biomedia Việt Nam

 

Các bài viết cùng chủ đề

Điểm tin tế bào gốc (Tuần 3)

1. Thương mại hóa sản phẩm liệu pháp tế bào ở Châu Âu Gần một nửa sản phẩm thương mại liệu pháp gen và tế...